
bán cây giống cam xoàn , cam sành , quýt đường , bưởida xanh ... giao hàng cả nước 0988868620
Thứ Ba, 4 tháng 2, 2014
Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây dó bầu, gió bầu trầm hương


Thứ Sáu, 31 tháng 1, 2014
Kỹ thuật trồng và nhân giống cây bơ sáp
cung cấp cây giống bơ sáp da xanh 19.000đ/cây , giao hàng cả nuớc, 0988868620 Nhẫn
I. Phương pháp nhân giống Bơ
Cây bơ có tính tạp giao rất mạnh giữa các giống nên vấn đề nhân giống hữu tính (bằng hạt) không phải là phương pháp tối ưu. Do đó vấn đề đặt ra cho công tác giống cây bơ là tìm ra các phương pháp nhân giống vô tính có hiệu quả nhất. Có thể kể đến các phương pháp sau:
1. Giâm cành: Phương pháp này đã được nghiên cứu thực hiện. Cây bơ có thể ra rễ và có thể không cần phun sương mù, nhưng kỹ thuật phức tạp chưa thông dụng và phổ biến nên cách làm này ít áp dụng.
2. Chiết rễ: Theo Nguyễn Cao Ban (1956), bơ có thể nhân giống vô tính bằng cách chiết rễ. Cách làm như sau: trên mặt đất, chung quanh gốc cây mẹ, chọn những rễ có đường kính cỡ 1cm, khía một đoạn vỏ, tách bỏ để làm gián đoạn mạch dẫn. Sau một thời gian, đoạn rễ sẽ đâm chồi và được đánh đi trồng. Phương pháp này sẽ làm tốn sức cây mẹ, gây bệnh cho rễ và hệ số nhân giống thấp nên ít khi áp dụng.
3. Ghép cây: kỹ thuật đơn giản như đối với một số loại cây ăn quả khác. Thường áp dụng hai cách ghép mắt và ghép cành; nếu ghép cành thì cành ghép thường là cành có ngọn. Tỷ lệ sống của phương pháp ghép này thường đạt 70-90%. Tốt hơn hết nên chọn những giống kháng bệnh thối gốc rễ làm gốc ghép để đạt hiệu quả kinh tế cao trong việc nhân giống trồng trên quy mô lớn. Ngoài việc phối trí để có bộ giống thích hợp, cần chọn cây mẹ lấy cành ghép có các đặc điểm năng suất cao và ổn định, không có xu hướng ra trái quá sức, trái cỡ vừa, phẩm chất ngon, thích nghi với khí hậu địa phương, có khả năng kháng bệnh...
Trong các phương pháp nhân giống vô tính trên đây, phương pháp ghép cây hiện nay được xem là phổ biến và có hiệu quả nhất.
II. Cách trồng và chăm sóc bơ
Bơ là cây to, đặc biệt giống Ăngti, nên ở các vùng thấp như Đông Nam Bộ, nên trồng cách nhau 8m, 10m. ở Lâm Đồng, Đắc Lắc độ cao 400 - 500 m trở lên có thể trồng dày hơn một chút.
Khí hậu miền Nam nói chung là nóng và ẩm và trồng bơ trước hết phải chú ý vấn đề thoát nước, vậy nên chọn các đất dốc. Khi bỏ phân vào hố, phải dùng phân hoai, sạch vì bơ rất dễ bị bệnh Phytophtora và phân chưa hoai, có thể mang mầm bệnh. Phải đào hố vào khoảng trước Tết, để trồng vào đầu mùa mưa, đất kịp ải, phân kịp hoai, cây khoẻ ít bệnh. Trồng xong, phải chăm tưới những ngày đầu để cây chóng bắt rễ. Bơ có bộ rễ ăn nông, nên mặt đất phải sạch cỏ.
Những năm đầu cây còn nhỏ, có thể trồng xen một số cây hàng năm chỉ làm cỏ quanh gốc. ở miền Nam, mùa khô gay gắt, nên những năm đầu tủ gốc bằng rơm rạ, cỏ khô, xơ dừa, vừa chống cỏ, vừa giữ ẩm.
1. Tưới nước: chỉ cần vào mùa khô, vì quả lớn trong vụ khô. Bơ dễ bị bệnh rễ, tránh tưới bồn là phương pháp vẫn dùng ở miền Nam mà chỉ dùng vòi, tốt nhất là phun mưa nhưng với lượng nước vừa phải.
2. Phân bón: rất cần vì bơ lấy đi từ đất nhiều chất dinh dưỡng. Theo Avilon (1986) một sản lượng bơ là 14.386 kg/ha lấy đi khoảng 40kg N, 25kg P2O5, 60kg K2O, 11,2kg CaO và 9,2kg MgO. Phân đạm thường có tác dụng lớn nhất đối với bơ. Nói chung, bơ non cha ra quả thì bón NPK theo tỷ lệ 1:1:1 và cây lớn có quả thì tỷ lệ đó là 2:1:2.
Bón phân chuồng bao giờ cũng có lợi và bón vào sau vụ thu hoạch tháng 7, 8. Lượng bón khoảng 10 tấn/ha và vẫn phải bón phân hoai.
3. Đốn tỉa: chủ yếu là vườn ương, với mục đích tạo hình, những giống bơ chủng Ăngti, sinh trưởng ngọn mạnh nên bấm ngọn, tạo cành khung khoẻ.
Khi cây đã lớn, đương ra quả không nên đốn nhiều vì làm giảm sản lượng. Chỉ cắt bỏ những cành sâu bệnh, những cành vượt mọc từ thân chính, cành gãy do gió mạnh, do mang nhiều quả. Cũng có những cây bơ chủng Ăngti mọc quá cao khó thu hoạch, phải đốn ngọn, cho phát triển về chiều ngang.
4. Phòng trừ sâu bệnh:
- Sâu: không gây thiệt hại nghiêm trọng. Một số bọ trĩ hại lá, rệp sáp hút nhựa, mọt đục thân và cành khung, trên quả có nhện đỏ. Thiệt hại thường nhẹ. Phòng trị không mấy khó khăn, nhưng phải phát hiện sớm, năng thăm vườn bơ.
- Bệnh: bệnh nguy hiểm nhất cần cảnh giác là bệnh thối rễ do nấm Phytophtora gây ra. Cây bơ trồng trên đất nặng khó thoát nước, trên đất pH cao hay bị bệnh nhất. Đã có nhiều tìm tòi về các phương pháp phòng trị vì bệnh này gây hại lớn, làm chết cả cây và từng mảng vườn.
- Cách trị triệt để: tìm các gốc ghép chống bệnh, nhưng đến nay chưa có kết quả cụ thể. Có gốc ghép chống chịu được nhưng tiếp hợp khó khăn; có gốc ghép tiếp hợp dễ nhưng chống bệnh yếu.
- Phòng trị hoá học: Trong thời gian 1970 đến 1974 ở Viện Quả Hải ngoại của Pháp dùng Dixono tới vào gốc một số cây, theo từng thời kỳ đã được xác định trước, số cây chết có giảm đi nhưng vẫn chưa ngăn cản được bệnh. Dùng Ridomil trộn với đất trước khi trồng (1g chất hữu hiệu cho 10 kg đất, hoặc tưới lên mắt đất quanh cây bơ con chưa ra quả có thể phòng được bệnh thối rễ ít nhất 4 tháng.
Để phòng bệnh thối rễ do Phytophtora, nên áp dụng các biện pháp tổng hợp sau đây:
- Chọn giống, tìm các gốc ghép chống chịu.
- Dùng các hoá chất diệt nấm phun lên cây (phun và trộn với đất để làm cho nấm phát triển chậm lại).
- Chọn đất kết cấu tốt, thoát nước nhanh, pH = 6 hoặc dưới 1 chút.
- Trồng bằng cây giống không bệnh.
- Nước tưới cây sạch, không tưới thẳng vào gốc cây.
- Trồng cây trên những ụ đất cao hơn chung quanh khoảng 30 cm.
- Phát hiện trên thân cây gần mặt đất những vết thối do nấm thì cạo sạch. Quét vôi trộn phèn xanh hoặc thuốc chống nấm.
5. Thu hoạch - tiêu thụ:
Xác định thời gian thu hoạch bơ khó vì quả bơ chín không khác gì quả bơ xanh, trừ trường hợp ở một số giống vỏ chuyển sang màu đỏ. Thu hoạch bơ xanh, dù để lâu không chín thêm, vỏ chỉ răn lại, thịt không mềm, mà cứng như cao su. Người trồng bơ thường chờ đến khi có vài ba quả tự rụng rồi hái hết cây, chỉ để lại những quả bé, vỏ còn xanh. Phương pháp này tuy chưa chính xác nhưng dễ áp dụng. ở các trại thí nghiệm xác định độ chín bằng cách phân tích tỷ lệ dầu, rồi đối chiếu với tỷ lệ dầu khi chín để thu hoạch. Cũng có thể xác định tỷ lệ chất khô (105oC trong 3 giờ).
Thu hoạch bằng sào, bằng rọ. Có khi người ta leo lên cây rồi rung từng cành nhỏ. Quả nào chín thì rụng.
Quả bơ không chín trên cây. Sau khi thu hoạch tuỳ điều kiện, có thể bảo quản được một thời gian dài hay ngắn, nhưng cũng không quá vài tuần lễ.
Độ nhiệt bảo quản từ 5 - 13oC tuỳ giống. Giống chịu lạnh bảo quản ở nhiệt độ thấp, giống không chịu lạnh, ở độ nhiệt cao hơn. Độ ẩm không khí nơi bảo quản giữ trong giới hạn 85 - 90%.
Trước khi bán cho người tiêu dùng phải cho quả bơ chín ở độ nhiệt cao hơn ở nơi bảo quản.
ở nhiệt độ 20oC bơ chín sau 6 - 12 ngày, ở độ nhiệt 25 - 27oC quả chín sau 5 - 7 ngày.
Khuyến nông Lâm Đồng, 29/7/2010
cung cấp cây giống bơ sáp da xanh 19.000đ/cây , giao hàng cả nuớc
Thế Giới Cây Giống . since 1993
20 năm tuyển chọn giống cây trồng
Địa chỉ : Ấp 14 , xã Long Trung , huyện Cai Lậy , tỉnh Tiền Giang
0906194819 Hòa ( phụ trách toàn quốc )
Chi nhánh Miền Đông : Ấp 3 , xã Trừ Văn Thố , huyện Bến Cát , tỉnh Bình Dương
0988868620 Nhẫn ( phụ trách Đông Nam Bộ)
http://giongbosap.blogspot.com/
Thứ Năm, 30 tháng 1, 2014
Kỹ thuật trồng và chăm sóc ổi lê Đài Loan
Ổi lê Đài Loan là cây trồng dễ tính, sinh trưởng khỏe, chịu thâm canh, nhanh cho quả, quả to, ít hạt, trọng lượng quả lớn, trung bình quả 250-300gam, thâm canh tốt đạt 350-400gam, riêng quả ra lứa đầu (ổi tơ) đạt tới 500-700gam/quả. Khi chín thịt quả giòn, mềm, mùi thơm nhẹ, vị ngọt mát, giàu dinh dưỡng. Thâm canh ổi lê Đài Loan quan trọng nhất là tỉa cành tạo tán và bao quả, cách làm có thể tiến hành như sau
2. Thời vụ: Ở các tỉnh miền Bắc nên trồng từ tháng 2-4 hoặc tháng 8-10.
3. Kỹ thuật trồng: Trồng bằng cây ghép hoặc cành chiết, chọn mua cây khỏe, sạch bệnh, đúng giống, nếu là cây ghép phải tỉa bỏ các mầm cây phát sinh bên ngoài mắt ghép; lên luống để rãnh tiêu nước; đào hố hình vuông hình khối: 50 x 50 x 50cm, hố cách hố: 3 x 4m, mật độ trồng: 30-35 cây/sào (360m2).
+ Bón lót cho 1 hố: 0,5kg vôi bột + 1kg Super lân + 0,5- 0,7kg NPK (16-16-8) + 4-5kg phân gia cầm hoai mục; vôi bột rải lót đáy hố, phủ lớp đất mỏng, số phân còn lại trước khi đưa tiếp xuống hố cần trộn đều với lớp đất mặt; khi trồng gỡ bỏ túi nilon bao bầu; đặt cây trồng ngay ngắn giữa hố, lấp đất kín tới 5-7cm gốc ghép; nén nhẹ rồi tưới đẫm nước.
+ Bón thúc: 2 năm đầu định kỳ bón cho mỗi gốc 0,5-1kg phân AT1 (18.14.7); từ năm thứ 3 chuyển sang khai thác quả, tốt nhất để dưới gốc cây 1 bao phân gia cầm 25-30kg (tận dụng vỏ bao lân, đạm để đựng), miệng bao buộc kín, đáy bao đục 1 vài lỗ nhỏ, mỗi lần bơm nước dưỡng cây, tưới đẫm vào bao cho rỉ nước phân xuống đất, rễ cây hút; 4-6 tháng thay 1 bao phân mới, phân cũ rải ra vườn; ngoài ra sau mỗi lần bao quả bón thúc thêm mỗi cây 0,3-0,4kg Kali sunfat hoặc Kali clorua để tăng chất lượng quả. Những nơi không có phân gia cầm có thể thay bằng phân bón AT2 (10.15.15), liều lượng 1-2kg/gốc (bón giai đoạn cây mang quả). Sau trồng 8-12 tháng cây đã bắt đầu ra hoa, đậu quả, tuy nhiên trong 1,5- 2 năm đầu không nên khai thác quả ngay, để tập trung dinh dưỡng nuôi cây và tạo hình cho cây. Ổi lê Đài Loan là giống sinh trưởng khỏe, quả to, sinh khối lớn nên có thể đầu tư phân bón cao để khai thác năng suất mà không lo lốp đổ, nhưng phải chăm bón cân đối.
3. Tạo hình cho cây: Đây là việc làm cần thiết trong suốt quá trình khai thác quả trên cây; cần bấm ngọn sớm để cây phát sinh các cành cấp I ở các vị trí thân cây dưới 1m (tính từ gốc); cắt tỉa để lại 3-5 cành cấp I phân đều ra các hướng; trên các cành cấp I tỉa bỏ các cành tăm, cành mọc sâu vào trong tán; hạ thấp chiều cao cành xuống dưới 1,5m -1,7; tạo thế cây phát triển cân đối, thuận tiện chăm sóc, thu hoạch và tăng khả năng chống đổ. Ổi lê Đài Loan có thể ra quả quanh năm trên các mầm cây bật từ nách lá, cây càng nhiều mầm nách càng nhiều quả. Để có nhiều mầm nách người ta thường làm trẻ hóa cây bằng cách gây tổn thương cơ giới: Sau mỗi lần kết thúc thu quả lại bấm ngọn hoặc vít cành, tùy theo vị trí của cành để xác định cách bấm tỉa, hay vít cành cho hợp lý, đối với các cành vượt cao quá tầm với thì dùng kéo cắt hạ thấp độ cao, đối với các cành vượt ngang ngoài tán nên dùng dây mềm buộc vít cong cành vào phía trong; các cành còn lại chỉ ngắt bỏ 5-10cm ngọn cành, trên các cành vít cong, cành bấm tỉa sẽ phát sinh các mầm mới, thêm hoa, nhiều quả. Cần kết hợp hài hòa giữa cắt tỉa với vít cành để tránh gây tổn thương nhiều cho cây, tiêu hao năng lượng, yếu cây, giảm năng suất.4. Khai thác quả: Sau khi cây tắt hoa 10 ngày (đường kính quả 0,5-1cm), tiến hành tỉa định quả, tỉa bỏ các quả còi cọc, quả sâu bệnh, để lại 1 quả trên chùm có trên 2 quả; tùy theo cây khỏe hay yếu mà xác định lượng quả để lại trên cây cho hợp lý, cành yếu, cành vượt để ít quả, cành khỏe, cành ngang để nhiều quả. Để có quả to, hợp thị hiếu người tiêu dùng, bán được giá thì cây 2-3 năm tuổi nên để 60-80 quả/cây; cây 4-5 năm tuổi để 200-250 quả/cây.
5. Phòng trừ sâu bệnh: Trên giống ổi lê Đài loan có 3 đối tượng sâu bệnh gây hại chính là sâu róm, rệp sáp và ruồi đục quả, cần áp dụng phương pháp phòng trừ tổng hợp, để bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm:
Sâu róm: Trong năm thường xuất hiện với mật độ cao từ tháng 2-4, hại hoa, quả non và mầm ngọn, có thể phun trừ hiệu quả bằng thuốc Sherpa 2-3%, Trebon 2%...
Rệp sáp: Trích hút dịch cây, gây hại các lá non, lộc non và quả cây, sử dụng Suprathion 40EC hoặc Bassa để phun trừ, nên hỗn hợp thuốc phun trừ với bệnh sương mai và sâu róm;
Ruồi đục quả gây hại quả trong suốt quá trình phát triển của quả, ruồi đục vỏ quả, đẻ trứng vào đó, hóa dòi đục ăn vào ruột quả, phòng trừ không kịp thời có thể thất thu cả vườn quả. Phòng trừ đối tượng này rất hiệu quả bằng cách bao quả sớm;
* Kỹ thuật bao quả (kết hợp với quá trình tỉa định quả trên cây): Bao quả bằng 2 túi, lưới xốp và nilon trắng kích thước 10 x12cm, lồng 2 túi vào nhau, trong lưới xốp, ngoài bao nilon, đáy đục vài lỗ nhỏ để thoát hơi nước, tránh thối quả; đưa miệng túi vào bao quả, dùng băng dính kín miệng tới cuổng quả hoặc 1 phần cành, như vậy sẽ đảm bảo cho đến khi quả chín không bị nhiễm bất cứ sâu bệnh nào, ngăn chặn được mọi yếu tố độc hại có thể tác động từ môi trường, sản phần đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Có thể tận dụng túi lưới xốp bao hoa quả ngoài chợ để bao ổi, tiết kiệm chi phí, nhưng phải xử lý túi trong dung dịch xút (nước xà phòng) để diệt trừ tồn dư sâu, bệnh; Chú ý, ngay khi cây tắt hoa phải phun phòng một số sâu bệnh: Ruồi đục quả, rệp sáp, bệnh sương mai... sau 10 ngày tỉa bao quả và tỉa định quả; trong 1-2 năm đầu, vườn cây chưa khép tán, có thể trồng xen các cây: Cà Pháo, ớt, lạc, đậu tương hoặc đậu xanh để tăng thu nhập, giữ ẩm cho đất, chống xói mòn và hạn chế cỏ dại.
5. Thu hoạch quả: Ổi lê Đài Loan tăng trọng rất nhanh, từ khi cây tắt hoa, đậu quả đến chín khoảng 35-45 ngày tùy mùa vụ, cần kiểm tra thu hoạch kịp thời, khi vỏ quả chuyển từ màu xanh sang màu sáng (gần với màu vàng chanh), dùng kéo cắt sát cuống, gỡ bỏ túi nilon bao ngoài, để nguyên túi lưới xốp, xếp vào thùng xốp hoặc caton đưa đi tiêu thụ.
Bằng cách làm này, nhiều gia đình nông dân xã Liên Nghĩa (Văn Giang-Hưng Yên) đã cho thu hoạch 15-25 triệu đồng/1 sào trồng ổi lê Đài Loan/1 năm, vì sản phẩm quả được người tiêu dùng ví như ổi sạch./.
Vườn mẫu ổi Đài Loan 2ha tại Bến Cát , Bình Dương cung cấp cây giống 15.000đ/cây , giao hàng cả nước
-- 20 năm tuyển chọn giống cây trồng --
0906194819 - Hòa ( phụ trách toàn quốc)
0988868620 - Nhẫn ( khu vực Đông nam bộ )
ĐC :Ấp 14 - Long Trung -Cai Lậy - Tiền Giang
Chi nhánh Bình Dương : Ấp 3 - Trừ Văn Thố Bến Cát - Bình Dương
http://www.thegioicaygiong.com/
www.oidailoan.blogspot.com
Chủ Nhật, 26 tháng 1, 2014
Kỹ thuật trồng và chăm sóc giống bưởi da xanh
Bưởi da xanh tuy mới hiện ra nhưng đã thực sự trở nên một loại hoa quả đặc biệt mà ai cũng muốn thưởng thức , đồng thời đem lại tiềm năng phát triển kinh tế cho bà con.
I. Kỹ thuât trồng và chăm sóc
1. Trồng cây:
- Thời vụ trồng: có xác xuất trồng quanh năm , đưa lại hiệu quả tốt nhất trồng vào vụ xuân ( tháng 2-4 ) vụ thu ( tháng 8-10 )
- Mât độ trồng: tuỳ thuộc vào chất đất và khả năng thâm canh.
+ Đất trồng bằng ( phù sa ): 6m x 7m
+ Đất vườn , đồi núi ( hơi nóng ): 4m x6m
*Cách trồng :
- Đào hố :
+ Đất phù sa hố đào ( 60cm x 60cm x 60cm ) nếu nền đất thấp trũng khó thoát nước có xác xuất đắp ụ hoăc lên luống cao.
+ Đất đồi hố đào 80cm x 80cm x 80cm trồng theo kiểu lanh sấu ( không tề chỉnh )
Phân bón hữu cơ đồng tâm xanh : 15_20kg.
Phân lân ( supelân ) 1kg , Kali sun fat 0 , 5kg , Vôi bột 1kg
Phần đất mặt đựơc trộn đều với phân và cho xuống đáy hố phần đất còn lại để trên mặt hố , gốc cao hơn mặt vườn từ 10_20cm ( việc đào hố , bón lót phải được tiến hành trước khi trồng từ 1 - 2 tháng ).
- Cách trồng: rạch bỏ bầu nilông , đặt cây vào hố lấp đất ngập bầu khoảng 2_3 cm. Nèn chặt đất chung quanh bầu , tạo mặt lõm từ 3_5cm chung quanh gốc để tưới.
Cắm coc va buộc dây mềm để cố định cây , tưới nước và phủ cỏ khô hoặc rơm rạ để giữ ẩm cho cây.
2. Chăm sóc cây sau khi trồng
- thường xuyên giữ ẩm cho cây. Tưới phân bón lá Lay-O , Combi-5 , komix….và bón định kỳ thường xuyên 1-2 lần/tháng.
- Cắt tỉa tạo tán 50cm để cành cấp I , 30cm để cành cấp II và 20cm để cành cấp III. Tạo cho cây có bộ khung lấy hơi , tán rộng tốt cho quang hợp.
- Bón cho cây chưa có quả , trước mỗi đợt lộc bón một lần thường năm có 3 đợt lộc vào mùa xuân _ hạ _thu.
- Khi cây có quả: bón 4 đợt/ năm:
+ thời kỳ lúa ra đòng sau thu hoạch quả , bón phân hữu cơ + lân 100% , đạm 20% vôi 100%
+ thời kỳ lúa ra đòng để sẵn ra hoa bón đạm , "ka-li" kalium , ZinC
+ thời kỳ lúa ra đòng ngăn lại trong một giới hạn nhất định dụng quả giúp quả lớn nhanh bón đạm , kali , boron.
+ thời kỳ lúa ra đòng trước thu hoạch 1 tháng bón kali , sungar.
II. Sâu bệnh hại cây.
1. Sâu hại:
- Sâu vẽ bùa: phá hoại mạnh ở thời kỳ lúa ra đòng cây chưa đến tuổi trưởng thành , chúng gây hại trên lá non , cành non , tạo vết thương cho cây , bệnh loét thâm nhập và phát triển , thời kì gây hại cốt yếu từ tháng 3 đến tháng 11 trong năm.
- Phòng trừ : dùng thuốc Polytin 0.2% , slrespa 0.2%
+ Sâu đục thân cành: dùng thuốc O fatox 0.1% , Symi sidin 0.2% phun và bơm vào lỗ sâu đục.
Phòng trừ: Vệ sinh vườn , quét vôi gốc , bắt diệt xén tóc.
+ Nhện đỏ và nhện trắng gây hại: nhện gây nám vỏ quả hiện ra từ tháng 2 đến tháng 5 , nhện gây hại trên lá hiện ra từ tháng 2 đến tháng 11.
- Phòng trừ nhện:dùng kenlan. Secgai son , sec ron , pega sus.
+ Sâu bướm phượng: thời kì hiện ra từ tháng 3 đến tháng 10
- Phòng trừ: phun mỗi đợt lộc bằng thuốc Sup racide 0.2%.
2. Bệnh hại:
- Bệnh thán thư: thường xuyên thăm vườn , phát hiện bệnh sớm sử dụng một trong các loại thuốc sau ( phun khi bệnh mới chớm ): Mancozeb 80WP , Daconil 75WP , Antracol 70WP , …
- Bệnh loét lá và bệnh sẹo: gây hại trên cành , lá , quả: dùng Boocdo
- Bệnh chảy gôm: dùng Boocdo , Benlat , Alliette
- Bệnh do vi rút: -Bệnh Greening ( gân xanh lá vàng ) phòng trừ bằng cách trồng cây sạch bệnh , diệt rày , các loại rệp bằng thuốc Bisp Shepas.
Bưởi da xanh đuợc Thegioicaygiong xứng đáng được đề nghị hoặc đề xuất nên sử dụng phân hữu cơ thay cho tan rã học sẽ giảm đuợc nhiều loại sâu bệnh và một lượng phân thuốc hóa học đáng tường thuật , chỉ sử dụng các phương pháp hóa học khi thực sự cần thiết
Cung cấp cây giống bưởi da xanh 19.000đ/cây , giao hàng cả nước
Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014
Mít changai 12.000đ/cây cách trồng và chăm nom
http://caycanhmekong.blogspot.com







